bat ghen
Một đoạn clip ghi lại cảnh người đàn ông và một phụ nữ trẻ có hành động thân mật trong ô tô đang gây xôn xao dư luận. Ảnh minh họa tạo bởi AI

Tối 2/11, mạng xã hội lan truyền đoạn video ghi lại cảnh được cho là một cặp nam nữ có hành vi nhạy cảm trên ô tô mang biển số TP. HCM, thu hút sự chú ý và nhiều ý kiến bàn luận. Người quay clip tự nhận là chồng của người phụ nữ xuất hiện trong video, sau đó công khai hình ảnh và gương mặt những người liên quan lên mạng xã hội. Sự việc tiếp tục diễn biến với những tranh cãi, cự cãi và sự xuất hiện của một số đoạn clip khác.

Không chỉ gây chú ý bởi nội dung, vụ việc còn đặt ra vấn đề về quyền riêng tư, quyền đối với hình ảnh cũng như việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm của những người liên quan khi video bị phát tán công khai. Để làm rõ các khía cạnh pháp lý liên quan, phóng viên đã trao đổi cụ thể với Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường – Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội).

Chưa thể kết luận ai vi phạm pháp luật qua những hình ảnh trong clip

Nêu quan điểm về vụ việc, Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường cho rằng: “Chưa thể chỉ căn cứ vào đoạn clip lan truyền trên mạng xã hội để kết luận hai người xuất hiện trong video có hành vi ngoại tình hoặc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.

Việc một người đàn ông và một người phụ nữ có hành vi thân mật trong ô tô chưa đủ căn cứ xác định họ vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình. Để làm rõ vấn đề này, cần xác minh tình trạng hôn nhân của từng người, bản chất mối quan hệ giữa họ, mức độ gắn bó cũng như những biểu hiện thực tế của việc chung sống như vợ chồng”.

Như vậy, để xác định hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, cần làm rõ các dấu hiệu pháp lý theo quy định, trong đó có hành vi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng trái pháp luật.

“Một người có thể bị xã hội phê phán về cách ứng xử trong quan hệ tình cảm, nhưng đánh giá về đạo đức và xác định trách nhiệm pháp lý là hai vấn đề khác nhau. Do đó, nếu chưa có tài liệu làm rõ tình trạng hôn nhân và bản chất quan hệ giữa hai người trong clip thì chưa thể kết luận họ ngoại tình, càng không thể mặc nhiên xác định họ đã vi phạm pháp luật”, ông Cường bày tỏ.

dvc.jpeg
Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường – Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp. Ảnh: NVCC

Bên cạnh việc xác định bản chất sự việc, Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường cho rằng, việc người quay clip công khai hình ảnh, gương mặt của những người liên quan lên mạng xã hội là vấn đề pháp lý cần được đặc biệt lưu ý.

Đại diện Văn phòng Luật sư Chính Pháp cho rằng: “Pháp luật không cấm tuyệt đối việc cá nhân ghi âm, ghi hình để ghi nhận những sự việc mình trực tiếp chứng kiến, nhất là khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật và cần lưu giữ tài liệu để cung cấp cho cơ quan chức năng. Trong những trường hợp phù hợp, hình ảnh, video, âm thanh có thể được sử dụng làm nguồn chứng cứ để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh và giải quyết vụ việc theo quy định.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc ghi hình nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân với việc sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của người khác để công khai, bêu riếu, xúc phạm hoặc tạo áp lực dư luận. Việc được quyền ghi nhận sự việc không đồng nghĩa với quyền tùy ý công bố những hình ảnh đã thu thập”.

Ông Cường dẫn Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015, trong đó quy định cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của một người về nguyên tắc phải được người đó đồng ý, trừ các trường hợp luật định, như sử dụng hình ảnh vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc hình ảnh thu được từ các hoạt động công cộng, với điều kiện không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

Cũng theo Điều 32, người có hình ảnh bị sử dụng trái pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án buộc người vi phạm chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, thu hồi, tiêu hủy hoặc chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định.

Bên cạnh đó, Điều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Điều 38 cũng khẳng định đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

Từ những quy định này, Luật sư Đặng Văn Cường nhận định: “Dù một người có hành vi bị xã hội đánh giá không tốt, họ vẫn có quyền được pháp luật bảo vệ về hình ảnh, danh dự, nhân phẩm và đời sống riêng tư. Không thể vì cho rằng người khác có lỗi trong quan hệ tình cảm mà tự cho mình quyền công khai gương mặt, danh tính, hình ảnh nhạy cảm hoặc những thông tin thuộc đời sống riêng tư của họ lên mạng xã hội.

Đặc biệt, nếu video ghi lại cảnh thân mật, quan hệ tình dục hoặc những tình huống nhạy cảm trong không gian riêng tư, việc công khai, phát tán hình ảnh càng cần được xem xét thận trọng. Hành vi này có thể xâm phạm nghiêm trọng các quyền nhân thân của người xuất hiện trong video và kéo theo những trách nhiệm pháp lý tương ứng”.

Người công khai video có thể bị xử lý hình sự

Khi được hỏi về dấu hiệu vi phạm trong việc công khai các video liên quan đến vụ việc, Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường cho biết, hành vi này có thể phát sinh trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự, tùy tính chất và mức độ vi phạm. Trong đó, cần phân biệt việc sử dụng hình ảnh trái phép với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc phát tán thông tin sai sự thật.

Về dân sự, các Điều 32, 34, 38 và 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền đối với hình ảnh, danh dự, nhân phẩm và đời sống riêng tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Người bị xâm phạm có thể yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, gỡ bỏ hình ảnh, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại theo quy định.

Về hành chính, hình ảnh có khả năng nhận diện một người được xem là dữ liệu cá nhân theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025. Theo Nghị định 330/2026/NĐ-CP, một số hành vi xử lý dữ liệu cá nhân khi chưa có sự đồng ý hợp lệ có thể bị phạt từ 30-50 triệu đồng; hành vi sử dụng dữ liệu cá nhân của người khác để thực hiện việc trái pháp luật có thể bị phạt từ 40-60 triệu đồng. Người vi phạm còn có thể bị buộc xóa, hủy dữ liệu đã xử lý trái quy định.

Bên cạnh đó, Nghị định 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân trên mạng xã hội.

Trường hợp có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người đăng tải có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về tội Làm nhục người khác theo Điều 155 hoặc tội Vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự. Việc sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện các hành vi này có thể là tình tiết định khung, với mức phạt tù tương ứng từ 3 tháng đến 2 năm và từ 1 năm đến 3 năm.

static-images.vnncdn.net-vps_images_publish-000001-000003-2026-11-3-_phat-tan-clip-nhay-cam-de-gan-link-ban-hang-doi-mat-voi-hinh-phat-nao-754.png
Người phát tán những video liên quan đến vụ việc có thể phát sinh trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự, tùy tính chất và mức độ vi phạm. Ảnh minh họa

Ngoài ra, một số trường hợp có thể bị xem xét theo Điều 288 hoặc Điều 331 Bộ luật Hình sự, nhưng phải căn cứ vào đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của từng tội danh. Do đó, không phải mọi hành vi đăng tải hình ảnh trái phép hay phát ngôn gây tranh cãi trên mạng xã hội đều mặc nhiên cấu thành tội phạm.

Luật sư Đặng Văn Cường cũng lưu ý trách nhiệm của những người tiếp tục chia sẻ, bình luận và phát tán video sau khi clip xuất hiện trên mạng xã hội.

“Sau khi clip được đăng tải, nhiều người dù không trực tiếp chứng kiến sự việc vẫn tham gia bình luận, chia sẻ, suy diễn và công khai những thông tin về danh tính, đời tư của người xuất hiện trong video. Thậm chí, có người dùng lời lẽ thô tục, miệt thị, xúc phạm hoặc tự suy đoán về tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, địa chỉ, gia đình của những người liên quan rồi đăng tải như thông tin đã được xác minh. Đây là biểu hiện đáng lo ngại của tâm lý đám đông trên không gian mạng”, đại diện Văn phòng Luật sư Chính Pháp nhận định.

Theo luật sư, quyền tự do ngôn luận không đồng nghĩa với quyền xúc phạm, vu khống hay xâm phạm đời tư của người khác. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin, nhưng việc thực hiện các quyền này phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, đồng thời tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Vì vậy, khi tiếp nhận thông tin chưa được kiểm chứng, người dùng không nên tự ý chia sẻ hoặc bình luận theo hướng khẳng định người xuất hiện trong clip có hành vi vi phạm pháp luật, quan hệ bất chính hay sai trái khác khi chưa có căn cứ. Nếu cố ý bịa đặt, loan truyền thông tin sai sự thật nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác, người chia sẻ hoặc bình luận có thể bị xem xét về tội Vu khống. Trường hợp sử dụng lời lẽ xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người khác, họ cũng có thể bị xem xét về tội Làm nhục người khác.

Luật sư Đặng Văn Cường khuyến cáo người dân cần hiểu đúng giới hạn của quyền tự do ngôn luận, quyền phản ánh, tố giác hành vi vi phạm pháp luật. Theo ông, khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, người dân nên cung cấp chứng cứ cho cơ quan có thẩm quyền, thay vì tự ý kết luận một người có tội, công khai thông tin riêng tư để gây áp lực dư luận. Những mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm, hôn nhân cũng cần được giải quyết bằng phương thức phù hợp, không biến mạng xã hội thành nơi trả thù, bêu riếu người khác.

“Tôi cho rằng, điều đáng lo ngại không chỉ là những hành vi có thể xảy ra trong chiếc ô tô, mà còn là cách một bộ phận người sử dụng mạng xã hội đang ứng xử với quyền riêng tư, danh dự và nhân phẩm của người khác. Một xã hội văn minh cần tôn trọng pháp luật, quyền con người, đánh giá đúng sai trên cơ sở chứng cứ và để cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm.

Quyền tự do ngôn luận không phải là quyền xúc phạm người khác; quyền tố giác không đồng nghĩa với quyền bêu riếu, quyền ghi hình cũng không có nghĩa là được tự do công khai đời tư. Mỗi người cần nhận thức rõ những giới hạn này để tránh từ người phản ánh sự việc trở thành người có hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng”, luật sư nhấn mạnh.

By admin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *